Hiển thị các bài đăng có nhãn khám sức khỏe định kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khám sức khỏe định kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

KHÁM SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG: ĐẾN HẸN LẠI LÊN

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

ừ nhiều năm nay, khái niệm khám sức khỏe định kỳ đã trở nên khá quen thuộc với đội ngũ những người làm công hưởng lương. Nhờ có quy định rõ trong luật lao động, các chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư dù muốn dù không cũng phải chấp hành yêu cầu này. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc khám sức khoẻ định kỳ lại như trăm hoa đua nở, mỗi nơi mỗi khác. Người lao động phần lớn coi đây là một điều kiện, một sự bắt buộc để được làm việc hơn là quyền lợi của bản thân. Sự đánh giá chưa đúng việc khám định kỳ, phần nào đã làm giảm đi ý nghĩa cũng như hiệu quả tích cực của nó. Bài viết tìm hiểu nội dung các quy định và tình hình chung, góp phần giúp các lãnh đạo cơ quan cũng như người lao động có một cái nhìn đúng đắn hơn về lĩnh vực này.

Khám sức khỏe định kỳ là gì?

Theo quy định, hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề; lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản; người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi phải được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần. Nội dung khám tối thiểu theo thông tư 13 quy định bao gồm:

1. KHÁM TỔNG QUÁT
2. (KHÁM PHỤ KHOA)
3. X QUANG PHỔI
4. XÉT NGHIỆM
- NGFL (Công thức máu)
- GLUCOSE (Đường huyết)
- TPTNT (Tổng phân tích nước tiểu)

Khái niệm “tối thiểu” đã dẫn đến những khuynh hướng khác nhau khá rõ khi các doanh nghiệp cân nhắc việc khám hàng năm. Những nơi có quan điểm “đối phó” và chỉ muốn tiết kiệm chi phí thường chỉ khám đúng những gì yêu cầu, thường được gọi là gói khám tối thiểu. Với các gói khám này, bác sĩ chỉ có thể phát hiện được những vấn đề nghiêm trọng và những bệnh đơn giản thường gặp như cao huyết áp, thiếu máu, tiểu đường v.v… Một số doanh nghiệp quan tâm đến sức khỏe của nhân viên thường có yêu cầu cao hơn với các xét nghiệm về viêm gan, ung thư cổ tử cung, điện tâm đồ, siêu âm bụng, các xét nghiệm về gan, thận và chuyển hóa mỡ (thường gọi là gói khám tiêu chuẩn).

Gói khám tiêu chuẩn có thể thay đổi cấu hình tùy theo yêu cầu của đơn vị đến khám và năng lực của nơi khám, nhưng thường đủ để đánh giá chính xác tình trạng bệnh và phát hiện sớm được nhiều rối loạn chuyển hóa hay tổn thương u bướu trong cơ thể. Một số công ty “quý phái”, ăn nên làm ra và quý trọng nhân viên của mình còn có thể yêu cầu khá nhiều xét nghiệm cao cấp nhằm tầm soát bệnh tim mạch, ung thư và rối loạn chuyển hóa các loại. Các gói khám cao cấp này vượt xa yêu cầu của Bộ Y tế và giúp ích rất nhiều trong việc quản lý sức khỏe người lao động.

Trên thực tế, khám sức khỏe định kỳ có một số nguyên tắc quan trọng mà người lao động có thể chưa nắm được nên thường bị nhầm lẫn.

a. Trước hết, khám định kỳ được tổ chức do người sử dụng lao động nhằm đánh giá người lao động có đủ sức khỏe để thực hiện công việc mình đang làm hay không? Do đó, việc phân loại sức khỏe tốt, khá, trung bình, yếu v.v.. chỉ là một yếu tố để người sử dụng lao động tham khảo mà thôi. Ví dụ: Một người sức khỏe trung bình có thể sẽ không còn phù hợp với công việc khuân vác ở công trường một người sức khỏe yếu thì vẫn hoàn toàn thực hiện được việc dán tem thư ở văn phòng. Người khám không thể kết luận là không đủ sức khỏe làm việc vì bản thân họ không biết được đó là công việc gì và nặng nhẹ thế nào!

b. Kế đến, cần hiểu là khám định kỳ là khám tổng quát và tầm soát. Đại đa số bệnh được phát hiện sẽ cần làm thêm một số xét nghiệm cũng như cần ý kiến bác sĩ chuyên khoa. Những vấn đề này mang tính cá nhân nên thường là người khám sẽ phải tự chi trả vì nó không nằm trong nội dung gói khám. Vì thế, đừng hy vọng là công ty sẽ chi trả tất cả những chi phí phát sinh cũng như không nên nghĩ là bác sĩ sẽ giúp bạn phát hiện bệnh chỉ trong một lần khám.

c. Cuối cùng, việc đánh giá phân loại của bác sĩ chủ yếu dựa trên khám tổng quát và một số xét nghiệm cơ bản. Các xét nghiệm không đầy đủ tất yếu dẫn đến kết luận thiếu sót. Vì thế, việc chẩn đoán thiếu sót có thể xảy ra và không hẳn hoàn toàn do lỗi của người khám mà chủ yếu do sự khống chế của gói khám ký kết giữa hai bên.

Lợi và hại?

Câu hỏi này có vẻ buồn cười vì đi khám bệnh mà cũng có hại? Có, bạn ạ. Việc gì cũng có mặt trái - thuốc uống không đúng còn sinh bệnh mà! Việc khám sức khỏe nếu làm đúng, làm đủ thì có hiệu quả rất tốt, giúp người đến khám hiểu được cơ thể của mình và tìm ra bệnh ở giai đoạn sớm. Tuy nhiên, nếu vì tiết kiệm chi phí mà chỉ khám qua loa sơ sài để được phiếu kết quả “tốt, đủ sức khỏe” thì rất có khả năng bạn đang tự hại mình đấy. Như đã giới thiệu ở trên, những yêu cầu tối thiểu không đủ để đánh giá sức khỏe hàng năm của mỗi người và nếu chỉ dựa vào đấy, việc bỏ sót bệnh - bỏ sót vì chủ quan cho là mình “sức khỏe tốt” vẫn rất dễ xảy ra.

Mặt khác, cần biết là việc khám định kỳ mang ý nghĩa TẦM SOÁT hơn là ĐIỀU TRỊ BỆNH. Vì thế, có thể hàng trăm người bình thường, chỉ có 1 người có bệnh nghiêm trọng. Việc chủ quan cho là ai cũng bình thường rất dễ xảy ra nếu như người khám thiếu kinh nghiệm hoặc làm việc tắc trách chủ quan. Điều này được nhấn mạnh vì trên thị trường dành cho khám công ty hiện nay, thượng vàng hạ cám đều có đủ cả và có khá nhiều nhà tổ chức làm việc theo kiểu chụp giựt, gom người chỗ nọ, thuê máy chỗ kia và cũng đua nhau ký hợp đồng với giá thật “bèo”. Khỏi phải nói thêm về chất lượng của các đội khám này - chủ yếu chỉ để cấp giấy và hợp thức hóa với nhà nước mà thôi!

Quyền lợi hay nghĩa vụ?

Sự khác biệt về ý thức nêu ở trên có thể hiểu một cách đơn giản: đây là quyền lợi hay nghĩa vụ? Nếu người nhân viên ý thức được đây là quyền lợi, họ sẽ cố gắng hợp tác hết mức có thể và sau đó sử dụng bộ hồ sơ khám đó làm tài liệu tham khảo về sức khỏe của mình trong suốt thời gian sau đó. Ngược lại, nếu chỉ xem đây là nghĩa vụ… đi khám cho xong vì công ty “ bắt” đi làm, thì chắc chắn đây sẽ là một sự lãng phí.

Thật ra, để giải quyết vấn đề này không đơn giản chút nào vì nó cần sự hợp tác của 3 bên: người lao động, người sử dụng lao động và nơi cung cấp dịch vụ. Về phía người sử dụng lao động (nhân sự), cần ý thức rằng đây không phải đối phó mà là phục vụ cho lợi ích của người lao động. Người lao động nên và cần có quyền quản lý hồ sơ của mình và sử dụng nó theo cách tốt nhất. Về phía người lao động, nếu có thể được thì nên sử dụng nơi quản lý hồ sơ sức khỏe của mình là nơi khám bệnh và theo dõi mỗi khi có vấn đề. Nhờ vậy, có thể tiết kiệm được khá nhiều chi phí cũng như thời gian cho dịch vụ y tế. Cuối cùng, nhà cung cấp dịch vụ cần có ý thức phục vụ lâu dài mà không phải là làm việc theo mùa, đến hẹn lại lên để rồi hết hẹn lại quên… thì sẽ không xây dựng được mối quan hệ gắn bó lâu dài với bên đối tác lẫn từng người bệnh cụ thể.

Chọn lựa nơi khám như thế nào?

Trước đây, việc khám sức khỏe chỉ được thực hiện bởi các cơ quan y tế công. Những năm sau này, do chủ trương xã hội hóa mà các đơn vị y tế tư nhân cũng tham gia vào lĩnh vực này một cách tích cực. Việc khám định kỳ cũng có “mùa”, thường là vào cuối năm - khi mà các cơ quan xí nghiệp thu vén công tác và bổ sung những gì còn thiếu sót. Mùa khám thường bắt đầu vào tháng 7, khi các phòng nhân sự bắt đầu tìm kiếm những đối tác để ký hợp đồng khám cho cơ quan mình. Việc chọn lựa thường dựa vào 2 yếu tố chính: chi phí và quan hệ. Tuy nhiên, một sự đánh giá tổng thể là cần thiết để đảm bảo người lao động thu được lợi ích tốt nhất từ khoản chi phí đầu tư của chủ doanh nghiệp dành cho người lao động. Người lao động hãy coi việc tổ chức khám định kỳ chu đáo là phần thưởng tốt trong mọi phần thưởng.

Một số hướng dẫn để chọn lựa nơi khám:

1. Giá: Việc so sánh chi phí giữa một số đơn vị cung cấp dịch vụ là cần thiết. Cần chú ý là mỗi nơi khám có thể cấu hình gói khám khác nhau. Do đó, việc so sánh giá giữa hai gói khác nhau là không hợp lý và không thực tế. Cách tốt nhất là yêu cầu báo giá theo một gói được chọn sẵn.

2. Vị trí: Vị trí khám cần tạo thuận lợi cho công nhân viên và không làm mất thêm giờ công. Việc lấy mẫu tại chỗ và khám tại chỗ có thể là một giải pháp tốt để làm hạn chế việc mất giờ công nhưng cần nhìn nhận một thực tế là đội ngũ nhân viên đến tận nơi thường là nhân viên thời vụ, hợp đồng và thiết bị di động thường không tốt bằng những thiết bị cố định.

3. Quy trình: Một cơ sở khám có quy trình hợp lý và rõ ràng chứng tỏ tính chuyên nghiệp cao và hạn chế được những sai sót, nhầm lẫn. Cần chú ý là việc khám định kỳ được thực hiện hàng loạt, số lượng lớn nên việc lẫn lộn mẫu, nhầm số là rất dễ xảy ra nếu không có cơ chế làm việc khoa học và phân công trách nhiệm rõ ràng.

4. Cơ sở vật chất: bộ phận nhân sự nên đi tiền trạm để đánh giá tình trạng cơ sở vật chất bao gồm phòng ốc, trang bị và các dụng cụ vật tư dùng trong khám bệnh. Khái niệm “đẳng cấp” có thể dùng để giải thích tại sao với cùng một cấu trúc gói khám mà sự chênh lệch về chi phí nhiều khi rất lớn.

5. Tính thân thiện của dịch vụ: Bao gồm phong cách phục vụ cũng như cách tổ chức cuộc thăm khám. Tính tiện lợi, sự nhanh chóng và nụ cười của nhân viên là những điểm cộng để chọn lựa.

6. Kết quả: kết quả của cuộc thăm khám đáp ứng được yêu cầu của tập thể bằng hệ thống phân loại chính xác và đầy đủ cũng như yêu cầu cá nhân bằng bộ hồ sơ phản ảnh toàn bộ những vấn đề ghi nhận được, đảm bảo sử dụng mỗi khi cần tham khảo tình hình sức khỏe.

Nói chung, một sự chọn lựa thông minh sẽ bao gồm chi phí hợp lý đi kèm với một kết quả đầy đủ nhưng đồng thời cũng cung cấp cho mỗi cá nhân một trải nghiệm thoải mái mà nhà cung cấp dịch vụ y tế mang đến.

Tác giả: TS.BS Võ Xuân Quang
Read more ...

KHÁM SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐỂ SỚM PHÁT HIỆN NHỮNG BỆNH NGUY HIỂM

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

Việc khám và kiểm tra sức khỏe định kỳ cho người lao động rất tốt, nhất là đối với những bệnh nguy hiểm nhưng diễn tiến âm thầm. Thường với những bệnh này, bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng trong giai đoạn đầu, nên nếu không được khám phát hiện kịp thời để đến khi biểu hiện triệu chứng điển hình thì bệnh có thể ở vào giai đoạn muộn, không điều trị được hoặc khó điều trị và có thể để lại di chứng nghiêm trọng, gây tổn thất về sức khoẻ, tinh thần, kinh tế cho bản thân, gia đình và cả xã hội.
Theo các chuyên gia y tế khuyến cáo thì khám, kiểm tra sức khoẻ định kỳ là một việc làm khoa học và có trách nhiệm đối với sức khoẻ cũng như tính mạng của mỗi người. Qua khám, kiểm tra sức khoẻ định kỳ, bác sĩ có thể tư vấn về các phương pháp bảo vệ sức khoẻ như thay đổi chế độ ăn uống, thói quen sinh hoạt, làm việc, cải tạo môi trường sống, bảo hộ lao động, luyện tập thể dục, thể thao… cũng như cách theo dõi, phương pháp điều trị trong trường hợp mắc bệnh.
Khám kiểm tra sức khoẻ định kỳ có thể khác nhau về thời gian, cách thăm khám, các xét nghiệm đi kèm tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, tiền sử bệnh tật của bản thân, nguy cơ về gia đình... Tuy nhiên, nói chung nên khám kiểm tra sức khoẻ định kỳ ít nhất mỗi năm một lần. Đối với những người làm việc nặng nhọc, trong môi trường độc hại, lớn tuổi… thì nên khám kiểm tra sức khoẻ định kỳ ít nhất 6 tháng một lần để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng suất làm việc và cải thiện chất lượng cuộc sống con người.
Trong khám kiểm tra sức khoẻ định kỳ thường có:
- Đo chiều cao, cân nặng, bắt mạch, lấy nhiệt độ, đo huyết áp, khám tổng quát.
- Xét nghiệm công thức máu.
- Tổng phân tích nước tiểu.
- Chụp X quang tim phổi.
- Siêu âm tổng quát…
Sau đó, tuỳ theo những đặc điểm riêng của từng cá nhân như đã kể trên mà bác sĩ thăm khám có thể đề nghị làm thêm một số xét nghiệm khác như:
- Điện tâm đồ, siêu âm tim.
- Đường máu.
- Lipid máu.
- Chức năng gan thận.
- Đo mật độ xương.
- Siêu âm ngực, chụp nhũ ảnh.
- Phết tế bào âm đạo (Pap’s), soi cổ tử cung.
- Xét nghiệm phân và soi trực tràng.
- Thử PSA...
Và trong một số trường hợp cần thiết, có thể bác sĩ thăm khám sẽ đề nghị bác sĩ chuyên khoa khám thêm hoặc hội chẩn các bác sĩ.
Một số bệnh nguy hiểm thường gặp và những đề nghị về khám kiểm tra định kỳ:
● Cao huyết áp
Cao huyết áp khi huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) ≥ 140 mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu) ≥ 90 mmHg.
Cao huyết áp thường gây tai biến loại nhẹ là co thắt mạch máu não. Trong trường hợp nặng có thể gây:
- Suy tim.
- Suy thận.
- Biến chứng thuyên tắc mạch.
- Tai biến mạch não: xuất huyết não, liệt nửa người, hôn mê hay nặng hơn có thể tử vong.
Do đó, những người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên nên kiểm tra huyết áp ít nhất 6 tháng một lần và từ 50 tuổi trở lên nên kiểm tra huyết áp thường xuyên vì nguy cơ bị cao huyết áp tăng lên nhiều mặc dù trước đây người đó có huyết áp bình thường. Đặc biệt chú ý kiểm tra huyết áp hơn nếu có yếu tố nguy cơ cao huyết áp như:
- Hút thuốc lá, thuốc lào.
- Tiểu đường.
- Rối loạn lipid máu.
- Tiền sử gia đình có người bị cao huyết áp.
- Lớn tuổi.
- Thừa cân, béo phì.
- Ăn mặn.
- Uống nhiều bia, rượu.
- Ít vận động thể lực.
- Có nhiều stress (căng thẳng, lo âu quá mức)…
● Béo phì
Béo phì dễ cao huyết áp, bệnh tim mạch, tiểu đường, hay bị các rối loạn dạ dày, ruột, sỏi mật.
Ở phụ nữ mãn kinh, nguy cơ ung thư túi mật, ung thư vú và tử cung tăng lên ở người béo phì. Còn ở nam giới béo phì thì hay bị bệnh ung thư thận và tiền liệt tuyến hơn.
Ngoài ra, béo phì còn gây những tác hại như:
- Giảm vẻ đẹp con người.
- Mất thoải mái trong cuộc sống: thường cảm thấy mệt mỏi toàn thân, hay nhức đầu, tê buốt ở hai chân.
- Giảm hiệu suất lao động.
- Kém lanh lợi nên dễ bị tai nạn xe cộ cũng như tai nạn lao động…
Kiểm tra chiều cao và cân nặng có thể biết được chỉ số khối cơ thể (BMI):
BMI =   
           (H)2
W: cân nặng (kg)
H: chiều cao (m)
BMI = 20 – 25: bình thường đối với người châu Âu và châu Mỹ; 18,5 – 23 đối với người châu Á.
BMI > 25: thừa cân.
BMI > 30: béo phì.
Bên cạnh đó cần theo dõi thêm tỷ số vòng bụng/ vòng mông, nếu tỷ số này vượt quá 0,9 ở nam giới hoặc 0,8 ở nữ giới thì nguy cơ cao huyết áp, bệnh tim mạch, tiểu đường đều tăng lên.
● Tiểu đường
Người mắc bệnh tiểu đường khi đường máu lúc đói ≥ 126 mg/dl (≥ 7mmol/l), thử ít nhất 2 lần liên tiếp; đường máu sau ăn hoặc bất kỳ ≥ 200 mg/dl (≥ 11,1 mmol/l).
Tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh nguy hiểm như bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não, mù mắt, tổn thương gan, suy thận, liệt dương, hoại thư…
Cần xét nghiệm đường máu và có thể xét nghiệm thêm đường niệu để phát hiện tiểu đường khi nghi ngờ hoặc khi có yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiểu đường như:
- Béo phì.
- Có người trực hệ bị tiểu đường. (Di truyền)
- Khát nước bất thường, tiểu nhiều, sụt cân nhiều mà không giải thích được lý do.
- Nhiễm nấm tái phát nhiều lần.
- Lớn tuổi…
● Rối loạn lipid máu
Các loại apoprotein và lipoprotein trong máu đều có thể định lượng. Tuy nhiên, trong lâm sàng chỉ có 4 thành phần thường xuyên được định lượng và đánh giá trong chẩn đoán và điều trị là: cholesterol toàn phần, HDL (high density lipoprotein), LDL (low density lipoprotein) và triglycerid.
Trong 4 thành phần trên có đến 3 thành phần gây hại là cholesterol toàn phần, LDL và triglycerid nhưng chỉ có 1 thành phần bảo vệ là HDL. Bình thường, cơ thể luôn có sự cân bằng giữa hai quá trình gây hại và bảo vệ. Khi có rối loạn 1 trong 4 thành phần trên, hoặc rối loạn nhiều thành phần thì gọi là rối loạn lipid máu (như khi có tăng thành phần gây hại và giảm thành phần bảo vệ hoặc đôi khi không có tăng thành phần gây hại nhưng có giảm thành phần bảo vệ).
Rối loạn lipid máu là nguy cơ chính của nhiều bệnh nguy hiểm: cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, xơ mỡ động mạch…
Nên kiểm tra lipid máu khi 40 tuổi trở lên và nhất là khi có yếu tố nguy cơ như:
- Tiền sử có bệnh mạch vành.
- Nhồi máu cơ tim.
- Tai biến mạch não.
- Cao huyết áp.
- Tiểu đường.
- Hút thuốc lá.
- Béo phì…
Read more ...